VÔ NGÃ

Duyên Hạc—Lê Thái Ất 

(tiếp theo và hết)

 

II-  HÀNH TRÌ

 

Tiến trình tu học tóm tắt ngắn gọn gồm bốn giai đoạn Tín, Giải, Hành và Chứng. Nói rõ ràng hơn, bốn giai đoạn dẫn giải như sau:

- Khởi tín tâm do nhân lành và pháp duyên hội kết,

- Lý giải để thấu hiểu tường tận lời Phật dạy,

- Hành trì để thực nghiệm điều đã lý giải thông suốt,

- Chứng ngộ đạo pháp, chuyển hóa tâm từ Vô minh thành Ðại giác.

Bài viết này chú trọng vào giai đoạn chuyển hóa từ Lý giải đến Hành trì lý Vô ngã. Thực nghiệm được Vô ngã thì kiện toàn luôn Vô thường và Vô lạc. Chỉ cần thực nghiệm được một trong ba pháp ấn thì đương nhiên thông suốt luôn hai pháp ấn còn lại. Tùy theo căn cơ duyên nghiệp của mỗi người khác nhau, hành giả chọn pháp ấn nào để hành trì đều được cả, cứu cánh chứng ngộ đều giống nhau. Nội dung bài viết này chỉ là một trường hợp thực tập hành trì có tánh chất điển hình, ứng dụng ở người có trung căn, duyên nghiệp thông thường.

 

 1 -  Nội dung từ ngữ NGÃ

 

 NGÃ là tiếng Hán Việt, nôm na gọi là TA, tiếng Sanskrit là àtman, tiếng Pali là attà, có nội dung chỉ thể tánh thường tồn, không bị tác động của lý duyên sanh, không theo quá trình chuyển hóa sanh, trụ, hoại, diệt.

Giáo lý đạo Phật không công nhận sự hiện hữu của Ngã. Toàn thể mọi hiện tượng vật lý và tâm lý đều không có chủ thể độc lập, thường hằng. Theo đạo Phật, khái niệm cho rằng có Ta, có Người là do Vô minh khởi động, do si mê sanh ra. Ðây là sự vận hành của Ý thức (thức thứ sáu trong Lục thức) căn cứ vào khả năng suy nghĩ phân biệt trong thế giới nhị nguyên, có Ta có Người, có Năng có Sở, có Chủ thể có Ðối thể. Tâm thức phân biệt trong cuộc sống hàng ngày làm cho người Vô minh chấp vào cái Ta, sanh ra những ý nghĩ: Ta yêu cái này, người này; Ta ghét cái này, người này; cái này là của Ta, cái này là của Người. Cái Ta này thống trị cuộc sống tâm linh người Vô minh, trực tiếp dẫn người này đến khổ não, xa rời Chân tánh Thanh tịnh ở con người. Hành giả thực chứng lý Vô ngã sẽ tự độ cho mình giải thoát khỏi hết mọi khổ não.

Từ ngữ NGÃ vốn là tiếng Hán Việt, thường diễn thành ba tiếng nôm khác nhau, người thiện học cần lưu tâm khi dùng tiếng nôm cho đúng với ý của mình muốn truyền đạt diễn tả:

- TÔI là tiếng tự xưng đối với tha nhân diễn ý phân biệt chủ thể và đối thể đều là người chỉ định trong môi trường sinh hoạt cộng đồng xã hội.

- TA là tiếng tự xưng chỉ chung con người phiếm định, không phải chủ thể và đối thể là người chỉ định, nhưng vẫn diễn ý phân biệt bên nói bên nghe.

- MÌNH là tiếng tự xưng không còn phân biệt chủ thể và đối thể. Hai bên Ta và Người, Năng và Sở đã hội nhập làm Một, mình nói cho chính mình nghe, mình tự nhủ với lòng mình. Trường hợp này Phật học gọi là tự quán hay nội quán ứng dụng khi hành giả sám hối, phát nguyện.

 Nói cách khác, TÔI và TA diễn tả nội dung tương đương như Vọng ngã, Giả ngã, MÌNH diễn tả nội dung tương đương như Chân ngã, Như Lai tánh, Chân tâm, Phật tánh, Phật tâm… Ba thí dụ cụ thể như sau:

- Ðược anh giúp đỡ lúc hoạn nạn, tôi không bao giờ quên ơn anh.

- Gặp lúc hoạn nạn được người giúp đỡ, ta nhớ mãi không quên ơn người thi ân.

- Hết lòng giúp đỡ kẻ hoạn nạn là mình tự tạo cho mình niềm vui sống, đó là Hỷ tâm của người hành trì Phật pháp.

 

2- Quán Vô ngã

Pháp môn quán Vô ngã gồm có hai phần chánh có tánh bổ sung và kiện toàn cho nhau, chứng tỏ lý duyên sanh.

- Cái Ngã của mình không phải thuộc riêng mình.

- Cái Ngã của những người thân không phải thuộc riêng mình.

 

* Cái Ngã của mình không phải thuộc riêng mình

  Con người là một giống động vật có cuộc sống tập thể xã hội từ xưa đến nay trên khắp mặt trái đất. Ðây là tương quan xã hội mật thiết gắn bó cá nhân này với cá nhân khác. Cầm thú, sâu bọ cũng vậy, chúng sống từng đàn, từng bày để nương tựa lẫn nhau trong cuộc sanh tồn. Lý duyên sanh này là sự thật hiển nhiên, nghiệm thấy rất dễ dàng, dù có ý thức hay không có ý thức, hoặc cố tình phủ nhận thì mối tương quan xã hội này vẫn vận hành ứng dụng trong sinh hoạt thực tế trong tập thể nhân loại.

 Trong sinh hoạt hàng ngày, ai cũng có nhiều cương vị khác nhau , ở mỗi cương vị một cá nhân có mối liên hệ riêng với từng thành phần khác nhau thể hiện ở nhiệm vụ và quyền lợi khác nhau. Ðó là đạo làm người , nền tảng xây dựng cuộc sống chung của nhân loại về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Sau đây là một số dẫn chứng.

 - Mối liên hệ huyết thống trong gia đình, gia tộc: Một cá nhân có nhiều cương vị khác nhau như làm con đối với cha mẹ, đồng thời là cha hay mẹ đối với con cái, làm cháu chắt đối với chú bác, cô dì, cậu mợ, ông bà, các cụ, đồng thời là bề trên đối với thế hệ kế tiếp, là anh chị em đối với người bằng vai ở cả bên nội bên ngoại, bên chồng bên vợ…

- Rộng hơn nữa là mối liên hệ chủng tộc, màu da cộng đồng nhân loại. Một cá nhân vừa là thành phần trong gia đình, gia tộc vừa là công dân trong nước, một đơn vị con người trong cộng đồng nhân loại nhìn theo cả hai khía cạnh thời gian lịch sử và không gian địa bàn hoạt động. Người dân nhớ ơn các vị anh hùng vị quốc vong thân. Toàn thể nhân loại đã vinh danh tôn thờ các nhà khoa học , triết gia đã để lại cho hậu thế bao nhiêu phát minh, sáng chế, học thuyết, định lý đóng góp chung xây dựng nền Văn minh nhân loại, những tiện nghi lợi ích cho tất cả mọi người hưởng chung. Ðạo làm người bao gồm cả bổn phận đối với bậc tiền bối và bổn phận đối với kẻ hậu sanh mai sau. 

- Mối liên hệ kinh tế nghề nghiệp: Ai cũng có một nghề, một chức nghiệp để mưu sanh. Vị bác sĩ không phải chỉ là một thành phần trong gia đình riêng, một người dân trong một nước mà còn là người chăm lo săn sóc bệnh nhân không phân biệt thân sơ, đồng chủng hay dị chủng. Tương tự như vậy , thày cô giáo là người của học sanh, công nhân là người của xí nghiệp sản xuất, thương gia là người của giới tiêu thụ, công chức và quân nhân là người của toàn dân…

- Mối liên hệ cùng một niềm tin, một nếp sống văn hóa như phong tục, tập quán, nghi thức ứng xử thù tạc: Cùng là tín đồ một tôn giáo, cùng theo một nghi thức về hôn lễ, tang lễ… Cùng một lý tưởng, một chí hướng theo đuổi…

 

* Cái Ngã của những người thân không phải thuộc riêng mình

 Mình không phải thuộc riêng mình và những người thân cũng không  thuộc riêng mình. Nói cách khác, không có cái Ngã nào thuộc riêng mình, kể cả tự mình và những người thân của mình. MÌNH và CỦA MÌNH chỉ là những âm thanh diễn tả một giả tướng, không phải một thực thể chân tánh, kẻ phàm phu vô minh có tâm thức mê lầm chấp Ngã nên ngộ nhận là thực thể có thực, do đó sanh ra ái dục, tham vọng, chấp thủ và tự tạo cho mình ưu phiền khổ não. 

 Bất cứ một người thân nào có liên hệ dưới hình thức nào cũng không phải thuộc riêng mình. Cha mẹ mình lệ thuộc vào bao nhiêu người khác: Cùng là cha mẹ của anh chị em mình, một thành phần trong tập thể gia đình, gia tộc , một công dân, một phần tử trong cộng đồng nhân loại… Cha mẹ mình không thể nào dành trọn cuộc sống, để hết tâm tư và thời giờ để liên hệ với riêng cá nhân mình, không còn biết đến ai khác nữa. Người con yêu thương cha mẹ là do lòng hiếu thảo nhưng khởi niệm độc chiếm cha mẹ dành riêng cho mình là sự mê lầm của tâm Vô minh. Trường hợp những người thân khác cũng vậy như liên hệ giữa vợ chồng, họ hàng con cháu, anh chị em, chú bác cô dì, bạn hữu…

Tóm lại, trong loại Nhân Vô ngã cái Tự Ngã của mình và cái Ngã của tha nhân đều là giả tưởng không có thực thể. Người con Phật tỉnh thức không phải chỉ sống cho mình một cách riêng biệt, phải hòa mình vào nếp sống của mọi người, đồng thời không chấp vào vọng niệm tin là người thân của mình chỉ sống cho riêng mình, không quan tâm và dành thì giờ sống cho nhiều người khác nữa, không độc chiếm người thân. Trong lúc yêu đương, trai gái thường thốt nên lời nói với nhau là người yêu duy nhất. Ðây chỉ là lời nói thực lòng, chân tình trong lúc bồng bột đúng với cảm thức chợt thốt ra ở cửa miệng. Ðây không phải là lời nói đúng với bản thể chân tánh ở con Người, không đúng với Tâm Tịnh Lạc của người đã thực chứng lý Vô ngã. Nói cách khác, đây là lời nói ứng hợp đúng với tâm thức kẻ chấp vào Giả Ngã, Vọng Ngã nhưng không ứng hợp đúng với tâm thức người giữ Chánh Niệm sống với Chân Ngã, Ðại Ngã. Người thực chứng lý Vô ngã không phải phủ nhận sự sống với chính mình mà chỉ chuyển hóa rời bỏ Vọng Ngã để sống trọn vẹn với Chân Ngã tức bản thể Thanh Tịnh có sẵn ở chính mình, sống trọn vẹn nghĩa là 100 phần 100 không còn vương vấn  chút ít gì với Vọng Ngã. Do đó, Chân Ngã còn có danh xưng là Ðại Ngã, Ngã Ba- la- mật.

Trong loại Pháp Vô ngã sự quán chiếu như sau: Bất cứ pháp hữu vi nào tức vật gì hay sự kiện gì xuất hiện xẩy ra đều có tự tánh KHÔNG. Ðó là nội dung câu Vạn pháp giai Không. Hiện tượng do con người cảm nhận được chỉ là giả tướng, là cái CÓ không thực, nhân duyên hội lại thì thấy CÓ, nhân duyên tán ra thì thấy KHÔNG, đó là lý Sắc- Không. Thái độ của người tỉnh thức đối với lý Vô thường, Vô ngã khi quán thấy Nhân Duyên lúc hội lúc tán, khi sanh khi diệt, CÓ đấy lại KHÔNG đấy là diệu ứng lý Tùy duyên: Duyên hội thì kết, duyên tán thì liễu, không bao giờ phan duyên. Câu này diễn nghĩa người thông suốt lý Pháp Vô ngã thấy cơ duyên đến thì suy ngẫm nếu là thiện duyên , hạnh duyên thì giữ lại, ứng dụng sanh lợi cho mình và cho tha nhân, nếu là chướng duyên, nghịch duyên bất lợi cho mình, cho người thì rời bỏ. Trường hợp duyên đã hội kết đến một thời điểm nào đó duyên hết, rã tan thì chấm dứt kết liễu việc ứng dụng để tránh thiệt hại cho mình, không bao giờ níu kéo luyến tiếc một khi cơ duyên đã hết không còn nữa. Ðó là thái độ tự tại của người tỉnh thức.

Ví dụ cụ thể để sáng tỏ lý Pháp Vô ngã: Giọt nước có tự tánh KHÔNG, danh xưng gọi là Nước chỉ là giả tướng, sự hội lại của hai khí Hydrô và khí Oxy. Khi duyên hội kết lại với nhau thì CÓ nước, khi duyên tách rời nhau thì KHÔNG CÓ nước. Âm thanh thốt ra ở cửa miệng NƯỚC chỉ là giả danh không thực. Ngay cả danh xưng gọi là Nước cũng thay đổi theo lý Vô thường: Nước ở thể lỏng, gặp khí nóng bốc hơi bay lên cao tụ lại thành Mây, Mây trên cao gặp khí lạnh tụ lại thành Giọt mưa trở lại thể lỏng, gặp khí lạnh xuống thấp thì thành Tuyết, thành Băng. Vô thường và Vô ngã là hai lý đương nhiên của vạn pháp có liên hệ mật thiết với nhau, không có sự vận hành riêng rẽ.

 

 III-  THỰC CHỨNG VÀ DIỆU DỤNG

 

Vạn pháp Vô thường và Vô ngã, con người phải ứng xử ra sao để sinh tồn và an lạc ? Sau khi thực chứng, con người không phải chỉ dương mắt nhìn khoanh tay chịu trận để mặc cho cảnh ngộ lôi cuốn theo một cách tiêu cực đi về đâu không biết. Con người phải biết hành động tích cực, diệu dụng tùy duyên tùy cảnh ngộ để đạt tới điều sở nguyện. Phật học gọi là lý Tùy Duyên, nói đầy đủ là Tùy duyên diệu ứng hay Tùy duyên diệu dụng. Có như vậy con người mới vượt qua hết được chướng ngại, thăng tiến đạt tới an lạc tự tại.

 

Vẫn lấy Giọt nước làm trường hợp điển hình dẫn chứng:Con người đã diệu dụng khai thác Giọt nước  Vô thường Vô ngã để xây dựng nền văn minh của nhân loại. Ðộng cơ hơi nước là trường hợp diệu dụng chuyển hóa từ thể lỏng sang thể hơi để tạo nên một năng lực bằng cách cho hội duyên nước lỏng với khí nóng. Con người đã khai thác ứng dụng lý Vô thường Vô ngã vận hành ở giọt nước để tạo nên năng lực chạy máy như động cơ hơi nước ở đầu máy xe lửa, ở tàu thủy … Nước gặp khí lạnh đóng thành băng dùng để ướp lạnh thực phẩm…

 

Ðối với hiện cảnh Vô thường Vô ngã khi quán vạn pháp, nếu khoanh tay chịu trận đầu hàng cảnh duyên một cách tiêu cực thụ động là trường hợp Cảnh dẫn Tâm, Cảnh sẽ dẫn đến ưu phiền, khổ não; nếu biết Tùy duyên diệu ứng tích cực ứng phó là trường hợp Tâm dẫn Cảnh, Tâm sẽ dẫn đến Thanh Tịnh, An nhiên Tự tại.

 

KẾT LUẬN

 

Thông thường thực tập pháp quán lý Vô ngã nên khởi đầu từ Nhân Vô ngã sau đến Pháp Vô ngã. Quán hình tướng và sự kiện Giọt nước tan biến vào Ðại dương là một trường hợp điển hình vừa sáng tỏ lý Vô thường và lý Vô ngã, vừa nhất quán bao quát cả Nhân Vô ngã khi coi một giọt nước như một cá nhân con người, đại dương là cộng đồng nhân loại và Pháp Vô ngã khi coi một giọt nước như một sự vật, một hiện tượng trong toàn bộ sinh hoạt hàng ngày của mọi người.

Nguyện chúng ta nội quán tự cá nhân mình hội nhập vào toàn khối cộng đồng Nhân loại, tự thấy mình tan biến trong pháp giới Nhân sanh, Cá thể hòa tan trong Tổng thể, HAI trở thành MỘT.

 

      Duyên Hạc

 

 

 

 


 
Bài vở đóng góp xin gửi về: baivochanhphap@gmail.com
Copyright © 2009 Chanh Phap Newspaper
Last modified: 02/09/11